Dịch học JP TokyoGiáo trình hệ thống

Phần 1 · Trời — Thiên văn gốc

Bài 1.2.2

24 Tiết khí; tiết khí theo kinh độ

khoảng 15 phútChương 1.2 · Sao và mùaHọc trước: 1.1.2
Nguồn và mức tin cậy của bài
🔵 khung 24 tiết khí · 🟢 thời điểm tiết khí theo kinh độ Mặt Trời · ⚖️ lý do "tuỳ Nam – Bắc bán cầu"

Bài này nằm ở đâu

  • Đã học trước: Bài 1.1.1 Thiên cầu, hoàng đạo, kinh độ Mặt Trời · Bài 1.1.2 Thiên đạo.
  • Bài này mở đường cho: Bài 4.1.3 10 Thiên Can · Bài 6.1.1 "Can Chi là Tiết khí" · Bài 6.1.2 Lịch Kim Cang Can Chi (năm khởi ở Đông Chí, tháng khởi ở trung khí) · Bài 6.2.5 Bát tiết · Bài 6.4.1 Nguyệt Kiến – Nguyệt tướng · Bài 7.1.1 24 Sơn · Bài 9.4.1 Độn Giáp (Kỳ Môn độn theo tiết khí).

Câu hỏi mở đầu

Tết Nguyên đán mỗi năm rơi vào một ngày dương lịch khác nhau, nhưng Lập Xuân lại gần như luôn là 4 hay 5 tháng Hai. Vì sao? Vì Tết theo Mặt Trăng, còn tiết khí theo Mặt Trời. JP nói "Can Chi chính là Tiết Khí" (): muốn hiểu Can Chi của tháng, của năm theo JP, trước hết phải hiểu 24 tiết khí.

Khái niệm cốt lõi

  • Tiết khí (節氣): thời điểm Mặt Trời tới một kinh độ hoàng đạo bội số của 15° (Bài 1.1.1) 🟢. 360° ÷ 15° = 24 tiết khí một năm.
  • 12 tiết (節) và 12 trung khí (中氣) xen kẽ 🔵: tiết mở đầu một tháng tiết khí (tháng Kiến), trung khí nằm giữa tháng. JP: "Tiết ra, trung vào" JP 🔵 ().
  • JP gắn tiết khí với không gian: "24 sơn nắm 360 → 1 sơn nắm 15 = 1 tiết khí" (); "24 tiết khí × 15 = 360 ngày Can Chi" () JP 🟡. (24 Sơn học ở Bài 7.1.1; lịch 360 ngày ở Bài 6.1.2.)
  • Tiết khí theo địa phương: Kỳ Môn độn giờ phải dùng tiết khí tại nơi người độn; "ở VN không thể lấy ngày tiết theo Tàu" JP (, ).

Nguyên lý — vì sao lại thế

  1. Mốc thiên văn. Bốn mốc chính là hai phân, hai chí (Bài 1.1.1): Xuân Phân 0°, Hạ Chí 90°, Thu Phân 180°, Đông Chí 270°. Chia đôi mỗi khoảng 90° được bốn "lập" (Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu, Lập Đông) ở 315°, 45°, 135°, 225°. Chia tiếp mỗi khoảng 45° làm ba, được đủ 24 mốc cách nhau 15°.
  2. Tiết và trung khí. Bắt đầu từ Lập Xuân (315°), các mốc lẻ là tiết (Lập Xuân, Kinh Trập, Thanh Minh…), các mốc chẵn là trung khí (Vũ Thuỷ, Xuân Phân, Cốc Vũ…). Mỗi tiết mở đầu một tháng Kiến: Lập Xuân mở tháng Dần, Kinh Trập mở tháng Mão…, Đại Tuyết mở tháng Tý, Tiểu Hàn mở tháng Sửu 🔵.
  3. Vì sao độ dài mỗi tiết khí khác nhau? Trái Đất đi quanh Mặt Trời theo quỹ đạo elip, gần Mặt Trời nhất vào đầu tháng 1, nên mùa đông Mặt Trời trượt trên hoàng đạo nhanh hơn: một tiết khí dài từ khoảng 14,7 ngày (mùa đông) tới 15,7 ngày (mùa hè) 🟢.
  4. Vì sao tiết khí "theo địa phương"? Thời khắc Mặt Trời tới kinh độ 15° × n là một thời điểm chung cho cả Trái Đất 🟢. Nhưng đổi sang giờ đồng hồ địa phương thì khác nhau theo kinh độ (múi giờ): Việt Nam dùng UTC+7, Trung Quốc UTC+8. Nếu tiết khí rơi gần nửa đêm, ngày tiết ở hai nước có thể khác nhau. Đó là lý do đúng của câu JP "ở VN không thể lấy ngày tiết theo Tàu" 🟢.
  5. JP đặt tiết khí lên không gian. Mỗi tiết khí 15° ứng một sơn 15° trên vòng 24 Sơn; Đông Chí ở chính Bắc (Tý), Hạ Chí ở chính Nam (Ngọ), Xuân Phân ở chính Đông (Mão), Thu Phân ở chính Tây (Dậu) JP 🟡. Đây là mắt xích nối thời gian (tiết khí) với không gian (24 Sơn), sẽ học ở Bài 7.1.1.

Bảng và sơ đồ

24 tiết khí (kinh độ Mặt Trời · ngày dương lịch gần đúng, giờ Việt Nam, lệch ±1 ngày tuỳ năm) 🟢 / 🔵:

Tháng KiếnTiết (mở tháng)λNgàyTrung khí (giữa tháng)λNgày
DầnLập Xuân315°4/2Vũ Thuỷ330°19/2
MãoKinh Trập345°6/3Xuân Phân0°20 – 21/3
ThìnThanh Minh15°5/4Cốc Vũ30°20/4
TỵLập Hạ45°5 – 6/5Tiểu Mãn60°21/5
NgọMang Chủng75°6/6Hạ Chí90°21/6
MùiTiểu Thử105°7/7Đại Thử120°23/7
ThânLập Thu135°7 – 8/8Xử Thử150°23/8
DậuBạch Lộ165°8/9Thu Phân180°23/9
TuấtHàn Lộ195°8/10Sương Giáng210°23/10
HợiLập Đông225°7/11Tiểu Tuyết240°22/11
TýĐại Tuyết255°7/12Đông Chí270°21 – 22/12
SửuTiểu Hàn285°5 – 6/1Đại Hàn300°20/1

Vòng tiết khí đặt lên địa bàn (Bắc trên, Đông phải; 12 Chi đi thuận kim đồng hồ, xem ảnh ở mục 14):

Tây (trái)giữaĐông (phải)
Bắc (trên)Đông Chí · Tý
giữaThu Phân · DậuXuân Phân · Mão
Nam (dưới)Hạ Chí · Ngọ

(Đây là vòng thời gian đặt lên địa bàn, đi thuận theo 12 Chi; khác với chiều Mặt Trời, Sao Mộc trượt trên nền sao ở Bài 1.1.2.)

Ví dụ từng bước

Ví dụ 1 — Một tiết khí dài bao lâu? 🟢

  1. Trung bình: 365,2422 ngày ÷ 24 ≈ 15,22 ngày.
  2. Mùa đông (gần điểm cận nhật đầu tháng 1) Mặt Trời trượt ≈ 1,02° / ngày → 15° mất ≈ 14,7 ngày.
  3. Mùa hè (gần điểm viễn nhật đầu tháng 7) ≈ 0,95° / ngày → 15° mất ≈ 15,7 ngày.
  4. Hệ quả: các phép "mỗi tiết đúng 15 ngày" (như 3 nguyên Kỳ Môn × 5 ngày) sẽ lệch dần, người sau phải thêm "siêu thần tiếp khí" để khớp. KH Nguyên nhân là độ dài tiết khí không đều, không phải "dương lịch mỗi năm thừa 5 ngày" như JP nói ().

Ví dụ 2 — Cùng một tiết khí, hai ngày khác nhau BS 🟢

  1. Giả sử tiết Đại Tuyết rơi lúc 00:30 ngày 7/12 giờ Bắc Kinh (UTC+8).
  2. Đổi sang giờ Việt Nam (UTC+7): 23:30 ngày 6/12.
  3. Ở Việt Nam, tháng Tý (theo tiết) bắt đầu từ ngày 6/12, còn lịch Trung Quốc ghi ngày 7/12. Vì thế người Việt không chép máy móc ngày tiết của lịch Tàu, đúng như JP và Nguyễn Văn Chung nói ().

Ví dụ 3 — Tháng Kiến của một ngày

  1. Ngày 15/3: đã qua Kinh Trập (6/3), chưa tới Thanh Minh (5/4) → thuộc tháng Mão (tháng Kiến Mão).
  2. Ngày 3/2: chưa tới Lập Xuân (4/2) → vẫn là tháng Sửu của năm trước theo lịch tiết khí, dù có thể đã qua Tết âm lịch.
  3. (Lịch Kim Cang Can Chi của JP lại khởi tháng ở trung khí, lệch nửa tháng so với tháng Kiến: xem Bài 6.1.2 và trường hợp .)

Tinh hoa hỏi – đáp HĐ

  • Nguyễn Văn Chung TV (tác giả Lịch Việt Nam & Cổ học Phương Đông 1901 – 2103): giờ tiết khí phụ thuộc kinh tuyến địa phương; kinh tuyến chuẩn của Trung Quốc là 120° Đông; nhiều sách lịch chép sai. → JP đồng ý: không thể lấy tiết khí một nơi áp cho toàn cầu (); năm 2023 JP còn dẫn sách này, nói sách ghi kinh tuyến từng xã ().
  • Hỏi về ba chuyển động → JP: Trái Đất tự quay cho ngày (15 kinh tuyến = 1 giờ); Trái Đất quay quanh Mặt Trời trên Hoàng đạo cho năm, "ánh sáng lên hai chí tuyến phân Đông Chí, Hạ Chí" ().

Đối chiếu

  • CỔ 🔵 Khung 24 tiết khí và phân chia 12 tiết / 12 trung khí là truyền thống. Lịch cổ từng chia tiết khí đều theo thời gian (mỗi tiết 1/24 năm), sau này (lịch Thời Hiến, đời Thanh) mới chia đều theo kinh độ Mặt Trời (mỗi tiết 15°) như ngày nay; JP dùng cách 15°.
  • KH 🟢 Thời khắc tiết khí là một thời điểm toàn cầu; khác nhau chỉ ở giờ và ngày theo múi giờ (kinh độ). Vĩ độ không làm thay đổi thời điểm tiết khí.
  • KH ⚖️ JP có lần nói tiết khí sớm muộn "tuỳ Nam – Bắc, Đông – Tây bán cầu" (, ): phần Đông – Tây (kinh độ) đúng; phần Nam – Bắc không đúng. Kết luận thực hành của JP (dùng giờ Việt Nam) vẫn đúng 🟢.

Điểm dễ nhầm và mâu thuẫn

  1. Tiết ≠ trung khí. Tiết mở đầu tháng Kiến (Lập Xuân mở tháng Dần); trung khí ở giữa tháng (Vũ Thuỷ). Đông Chí, Hạ Chí, Xuân Phân, Thu Phân đều là trung khí.
  2. Tháng tiết khí (theo Mặt Trời) ≠ tháng âm lịch (theo Mặt Trăng). "Tháng Giêng âm lịch" và "tháng Dần tiết khí" thường lệch nhau vài ngày tới vài tuần.
  3. 🔍 Tháng Kiến (khởi ở tiết) ≠ tháng của lịch JP (khởi ở trung khí): hai hệ quy chiếu, không mâu thuẫn (Bài 6.1.2).
  4. ⚖️ "Tuỳ Nam – Bắc bán cầu": phần này của JP không đúng (mục 8).
  5. Năm tiết khí bắt đầu ở đâu? Lịch thông dụng coi Lập Xuân là đầu năm Can Chi; lịch Kim Cang Can Chi của JP khởi năm ở Đông Chí (Bài 6.1.2). Luôn ghi rõ đang dùng mốc nào.

Tóm tắt 5 dòng

  1. Tiết khí là lúc Mặt Trời tới kinh độ hoàng đạo bội số của 15°: 24 tiết khí một năm.
  2. 12 tiết mở đầu 12 tháng Kiến (Lập Xuân → tháng Dần…), 12 trung khí ở giữa tháng: "Tiết ra, trung vào".
  3. Mỗi tiết khí dài 14,7 – 15,7 ngày vì quỹ đạo Trái Đất là elip.
  4. Thời khắc tiết khí là chung toàn cầu, nhưng ngày tiết theo giờ địa phương khác nhau theo kinh độ: người Việt dùng giờ Việt Nam.
  5. JP: 1 tiết khí = 15° = 1 sơn; 24 tiết khí × 15 = 360 ngày Can Chi; "Can Chi chính là Tiết Khí".
mindmap
  root((24 Tiết khí))
    Thiên văn
      Kinh độ Mặt Trời × 15°
      Hai phân · hai chí · bốn lập
      14,7 – 15,7 ngày
    Tiết và trung khí
      Tiết ra, trung vào
      Lập Xuân → tháng Dần
    Theo địa phương
      Chung toàn cầu
      Ngày theo múi giờ
      Việt Nam UTC+7
    JP
      1 tiết = 15° = 1 sơn
      24 × 15 = 360
      Can Chi là Tiết khí

Tự kiểm tra

  1. Tiết khí được xác định bằng gì?

    Xem đáp án câu 1

    Bằng kinh độ hoàng đạo của Mặt Trời: mỗi khi Mặt Trời tới bội số của 15°.

  2. Vì sao có đúng 24 tiết khí?

    Xem đáp án câu 2

    360° ÷ 15° = 24.

  3. Kể tên 4 trung khí ứng với hai phân, hai chí và kinh độ của chúng.

    Xem đáp án câu 3

    Xuân Phân 0° · Hạ Chí 90° · Thu Phân 180° · Đông Chí 270°.

  4. Lập Xuân ở kinh độ bao nhiêu? Mở đầu tháng Kiến nào?

    Xem đáp án câu 4

    315°; mở đầu tháng Dần.

  5. Vì sao tiết khí mùa đông ngắn hơn mùa hè?

    Xem đáp án câu 5

    Vì đầu tháng 1 Trái Đất gần Mặt Trời nhất, Mặt Trời trượt trên hoàng đạo nhanh hơn, nên 15° mất ít ngày hơn (≈ 14,7 so với ≈ 15,7 ngày mùa hè).

  6. (Vận dụng) Ngày 10/8 thuộc tháng Kiến nào? (Lập Thu ≈ 7 – 8/8, Bạch Lộ ≈ 8/9)

    Xem đáp án câu 6

    Đã qua Lập Thu, chưa tới Bạch Lộ → tháng Thân.

  7. (Vận dụng) Một tiết khí rơi lúc 00:15 giờ Bắc Kinh ngày 22/12. Ở Việt Nam là ngày nào?

    Xem đáp án câu 7

    00:15 giờ Bắc Kinh = 23:15 ngày 21/12 giờ Việt Nam → ở Việt Nam là ngày 21/12.

  8. Câu JP "tiết khí sớm muộn tuỳ Nam – Bắc bán cầu" đúng hay sai? Phần nào đúng?

    Xem đáp án câu 8

    Sai một phần: phần Đông – Tây (kinh độ, múi giờ) đúng; phần Nam – Bắc (vĩ độ) không làm thay đổi thời điểm tiết khí. Kết luận thực hành (dùng giờ Việt Nam) đúng.

Đọc nhanh trong 3 phút

Mỗi năm Mặt Trời đi hết một vòng hoàng đạo 360 độ. Người xưa cắm 24 cái mốc trên vòng ấy, cứ 15 độ một mốc, gọi là 24 tiết khí. Bốn mốc lớn nhất là Xuân Phân, Hạ Chí, Thu Phân, Đông Chí; xen giữa là bốn chữ "Lập": Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu, Lập Đông. Các mốc thay phiên nhau làm "tiết", mở đầu một tháng, và "trung khí", đứng giữa tháng; JP gọn lại: tiết ra, trung vào. Vì theo Mặt Trời nên Lập Xuân năm nào cũng rơi quanh ngày 4 tháng Hai, khác với Tết âm lịch chạy theo Mặt Trăng. Thời khắc tiết khí là chung cho cả Trái Đất, nhưng đổi ra giờ Việt Nam có khi sang ngày khác với lịch Tàu, nên JP dặn người Việt phải dùng giờ của mình. JP còn đặt mỗi tiết khí lên một ô 15 độ của vòng 24 sơn, và nói "Can Chi chính là tiết khí": thời gian trên trời được đặt xuống mặt đất.

Nguồn: bài gốc của JP

Xem danh sách bài gốc
Mã bàiNgàyNội dung dùng trong bàiLink
20/12/2020⭐ Tiết khí theo địa phương; hỏi – đáp Nguyễn Văn ChungXem bài gốc
không rõ ngày (khoảng 2020)"Tuỳ Nam – Bắc, Đông – Tây bán cầu"Trang JP Tokyo
21/02/2023Ba chuyển độngTrang JP Tokyo
16/03/2023"Tiết ra, trung vào"Trang JP Tokyo
07/12/2023"Can Chi chính là Tiết Khí"Trang JP Tokyo
20/12/2023Tiết khí theo kinh độ; sách lịch ghi kinh tuyến từng xãTrang JP Tokyo
05/02/20251 sơn = 15 = 1 tiết khíTrang JP Tokyo
29/03/2025Kỳ Môn, siêu thần tiếp khíTrang JP Tokyo
02/04/202524 × 15 = 360 ngày Can ChiXem bài gốc

Bạn đang đọc phần mở tự do (Phần 0, Phần 1 và Chương 2.1 – 2.2). Khi muốn đi trọn con đường, khoá Dịch học JP Tokyo mở đủ 142 bài. Tìm hiểu khoá học →

← 1.2.12.1.1 →